Trong đời sống giao tiếp xã hội và học thuật của nhân loại, văn hóa là khái niệm được dùng rất phổ biến, gắn với các hoạt động của con người. Trong khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau. Mỗi ngành khoa học xã hội, nhân văn lại có cách tiếp cận văn hóa riêng, vì thế văn hóa trở thành khái niệm vô cùng đa nghĩa.
Trên thực tế, văn hóa có thể được dùng với nghĩa thông thường chỉ trình độ học vấn, mức độ ứng xử lịch sự của con người, hoặc dùng chỉ tập quán, thói quen của một nhóm người, một cộng đồng.
Văn hóa cũng có thể được dùng với nghĩa chuyên biệt chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn lịch sử của dân tộc hay của cả nhân loại.
Văn hóa còn được dùng để chỉ sự khác biệt về tộc loại giữa con người và động vật (văn hóa là thuộc tính đặc hữu của con người).
Văn hóa còn dùng để chỉ sự khác nhau về tinh thần giữa các cộng đồng người (các nền, các kiểu văn hóa và lối sống của các tộc người).
Văn hóa cũng có thể được dùng chỉ sự đánh giá phẩm chất người của những cá nhân và cộng đồng (có văn hóa, thiếu văn hóa…).
Trong lịch sử loài người, thuật ngữ “văn hóa” đã xuất hiện rất sớm.
Tại phương Tây, chữ văn hoá (culture - tiếng Anh, tiếng Pháp đều viết giống nhau) có nguồn gốc từ chữ La tinh cultus với nghĩa gốc khởi nguyên là “gieo trồng”, “vun xới”trong trồng trọt cây lương thực (nghĩa là chăm sóc cây cối từ gieo hạt nảy mầm, lên cây, đơm hoa kết trái). Sau này chữ culture (văn hóa) được mở rộng nghĩa dùng trong đời sống xã hội, chỉ sự “gieo trồng trí tuệ” cho con người, giáo dục đào tạo con người, hình thành phát triển con người và cộng đồng dân tộc.
Trong lịch sử phương Đông, quan niệm văn hoá được nói đến nhiều ở Trung Quốc cổ xưa, thể hiện qua cách chiết tự chữ nghĩa. Văn hóa là “nhân văn giáo hoá”, “văn trị giáo hoá”.
Trước hết, theo cách hiểu thứ nhất, văn hóa là “nhân văn giáo hóa”. Trong sách Chu Dịch thế kỷ VI -V trước công nguyên, ở Quẻ Bí có câu: “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” (xem dáng vẻ của con người mà cải biến thành thiên hạ)”. Ở đây xuất hiện hai chữ “văn” và “hoá”. Văn là vẻ đẹp của con người, do con người sáng tạo ra (nhân văn khác với thiên văn - văn của trời, khác với địa văn - văn của đất). Hoá là đem cái “văn” mà cải hóa, giáo hóa cho con người, làm cho con người hóa ra có văn (trở nên tốt đẹp). Văn hóa là “nhân văn giáo hóa” hay “văn minh giáo hóa” tức là tác động đến cá nhân, biến sinh thể người thành con người xã hội. Như vậy, văn hóa có nghĩa là đem “cái đẹp của con người”- tức là các giá trị nhân văn làm chuẩn mực để thay đổi con người thoát khỏi tình trạng hoang dã, lạc hậu, kém hiểu biết. Nói cách khác, văn hóa là làm cho người ta trở nên đẹp đẽ - cái đẹp chỉ có ở người.
Theo cách hiểu thứ hai, văn hóa là “văn trị giáo hóa”. Trong sách Thuyết uyển chi vũ của Lưu Hướng thời Tây Hán (206 TCN đến 25 SCN), có câu: Thánh nhân cai trị thiên hạ trước hết dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực. Dùng vũ lực chỉ để đối phó với kẻ bất phục tùng. Dùng văn đức không thay đổi được thì sẽ chinh phạt.
Như vậy, văn trị là lấy văn đức để giáo hóa, đưa con người vào trật tự, kỷ cương, phép tắc, lễ nghĩa mà tổ chức, quản lý, cai trị họ, lấy “văn trị” đối lập với “vũ trị”. Từ Hồng Hưng cho rằng: “văn hóa (thời xưa) là văn trị giáo hóa, lễ nhạc, điển chương, chế độ. Cách giải thích này vẫn được bảo trì ở Trung Quốc đến ngày nay, đương nhiên nó không hoàn toàn giống nghĩa cultura của phương Tây”1. Nếu như theo cách hiểu thứ nhất văn hóa là “nhân văn giáo hóa”, đem văn hóa tác động vào cá nhân thì theo cách hiểu thứ hai “văn trị giáo hóa” là đem văn hóa tác động vào cộng đồng để tổ chức cộng đồng, tổ chức xã hội. Trong lịch sử phong kiến, các bậc hoàng đế chân chính, các bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Cho nên, các đấng minh quân (vua sáng) thường dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc, điển chương, văn sách để giáo hóa thần dân (đối lập với việc dùng uy lực, vũ lực, uy thế để cưỡng chế, bình định, chinh phục), tức là quan điểm dùng văn trị, đức trị, nhân trị để vỗ về, cảm hóa con người theo các giá trị chuẩn mực Chân, Thiện, Mỹ.
Vào thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã bày tỏ quan niệm về văn hóa trong áng “thiên cổ hùng văn” Đại cáo bình Ngô, coi văn hoá là văn hiến, là phong tục, là việc nhân nghĩa ở đời, Nguyễn Trãi viết: “Trọn hay: đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo…”(Đại cáo bình Ngô)
Về sau, thuật ngữ văn hóa liên tục được bổ sung ý nghĩa nội hàm ngày càng rộng mở và phong phú với hàng trăm định nghĩa khác nhau2
Hiện nay, văn hóa vẫn là một trong những khái niệm rất rộng, đa dạng, phức tạp và tiếp tục được cắt nghĩa. Vì sao lại có nhiều cách hiểu văn hóa khác nhau như vậy? Bởi lẽ có hai yếu tố liên quan đến sự nhận thức về văn hóa là đối tượng nhận thức (tức là văn hóa và nền văn hóa) và chủ thể nhận thức văn hóa (tức là con người)… vô cùng phong phú và phức tạp.
Cho đến nay, số định nghĩa về văn hóa chưa dừng lại, mà ngày một tăng thêm. Điều đó chứng tỏ văn hóa là khái niệm rất khó xác định. Không phải ngẫu nhiên mà nhà nghiên cứu người Pháp Jaques Dérrida trong bài viết Ban đầu và cuối cùng là văn hóa, tạp chí Người đưa tin UNESCO, số 10/1993, đã bình luận: “Văn hóa chính là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí hiểm không cùng với những ai ngày nay đang cố tìm cách suy nghĩ về nó”.
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay đã có hàng ngàn định nghĩa văn hoá trong tài liệu phổ thông, hàn lâm đến môi trường truyền thông báo chí, internet. Và nhân loại vẫn tiếp tục bổ sung, làm rõ nội hàm khái niệm văn hóa. Chẳng hạn như:
- Văn hóa là “tri quyển” (tức không gian trí tuệ của nhân loại vừa hữu hình lại vừa vô hình) cùng song trùng tồn tại với không gian sống của đại tự nhiên (là sinh quyển bao gồm thạch quyển, khí quyển và thủy quyển)
- Văn hoá là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả.
- Văn hoá là toàn bộ những gì phi tự nhiên, là sự “nhân hóa” tự nhiên của con người.
- Văn hoá là thiên nhiên thứ hai do loài người sáng tạo ra.
Tuy văn hóa là khái niệm đa nghĩa, nhưng vẫn có những điểm chung được đa số giới chuyên môn thừa nhận như sau:
- Về phương diện loài, văn hóa là sản phẩm đặc hữu chỉ có ở loài người, nó là cái dùng để phân biệt giữa con người và động vật.
- Về phương diện cá nhân, văn hóa là sức mạnh bản chất của con người, thể hiện trong hoạt động sống và phương thức sống của con người, thể hiện trong bản thân con người và tầm vóc phát triển của con người.
- Về phương diện đời sống, văn hóa là phương thức tồn tại độc đáo của xã hội người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống của quần thể động vật.
- Về phương diện biểu hiện, văn hóa thông qua hệ thống biểu tượng mà truyền đạt trong xã hội, được con người bắt chước, học tập, làm theo chứ không phải di truyền theo con đường sinh học.
Trong khoảng thời gian thế kỷ XVIII-XIX, với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, khoa học, kỹ thuật phát triển theo và đặc biệt do yêu cầu của chủ nghĩa tư bản đi tìm kiếm thuộc địa, thống trị các dân tộc khác, vấn đề nghiên cứu văn hóa được đặt ra. Văn hóa trở thành đối tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học xã hội và nhân văn. Từ đây, khái niệm văn hóa trở thành thuật ngữ khoa học, chẳng hạn trong tác phẩm Khoa học chung về văn hóa của Klem (Người Đức) xuất bản năm 1855 hay trong tác phẩm Văn hóa nguyên thuỷ của Tylor ra đời năm 1871. Sau đó thuật ngữ văn hóa (cultura) từ Châu Âu lan sang Châu Á. Tại Nhật Bản, người ta đã đã dùng từ văn hóa của Trung Hoa để chuyển dịch thuật ngữ cultura sang tiếng Nhật (đọc là Bunka). Từ đất nước Nhật Bản, thuật ngữ văn hóa truyền vào Trung Quốc và đến Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã tiếp thu và giới thiệu trong sách báo và khái niệm văn hóa được dùng ở nước ta từ bấy giờ.
Trước đây, khi nghiên cứu về nhân loại và lịch sử loài người, C. Mác và Ph. Ăng ghen đã khẳng định văn hóa là kết quả phát triển, tiến hóa của nhân loại; coi văn hóa là tất cả mọi sản phẩm “nhân hóa tự nhiên” của loài người trong lịch sử; văn hóa được hình thành và phát triển trong các mối quan hệ tương tác giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người, giữa con người với xã hội; văn hóa là toàn bộ những sản phẩm do loài người sáng tạo ra trong quá trình tiến hoá. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá sau đó văn hoá lại tạo ra con người.
Văn hóa là sự sáng tạo của “các lực lượng bản chất người của con người” tham gia vào cải biến tự nhiên nhằm mục đích sinh tồn.
Văn hóa được xem là trình độ phát triển của con người và xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
C.Mác và Ph.Ăng ghen đã khẳng định:
“Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xem xét được trình độ văn hóa của con người” .
Văn hóa dân tộc được lưu truyền hết sức tự nhiên thông qua ngôn ngữ và các hành vi xã hội của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác theo dòng chảy thời gian. Khi văn hóa xuất hiện trong tư cách một hệ giá trị thì chính văn hóa lại tham gia sáng tạo nên phần người của con người, đồng thời duy trì trật tự xã hội cũng như kiến tạo sự phát triển. Về cơ bản, văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, thể hiện trình độ của cộng đồng xã hội trong phát triển.
Văn hoá là hiện tượng xã hội, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của loài người.Văn hoá là dấu hiệu phân biệt giữa người và động vật. Văn hoá được xem là tổng thể toàn bộ ý thức xã hội của con người. Đó là trí tuệ hiểu biết của nhân loại đượcsáng tạo và hình thành trong lao động và hoạt động thực tiễn ở một hoàn cảnh cụ thể (với không gian và thời gian xác địnhtrong dòng chảy lịch sử, cộng đồng xã hội) nhằm hướng tới mục đích sinh sống, tồn tại và phát triển. Do đó, con người ở những điều kiện tự nhiên khác nhau thì sẽ có cách ứng xử riêng bằng hiểu biết của họ với vùng tự nhiên đó, tạo ra văn hóa vùng miền.Từ trí tuệ hiểu biết nảy sinh ra quan niệm về các quy ước cộng đồng lặp đi, lặp lại theo thời gian, hình thành tập quán, phong tục, có tác dụng điều chỉnh hành vi xã hội, thói quen hàng ngày của con người.
Văn hóa là nét riêng đặc thù, là bản sắc của một cộng đồng người phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi cộng đồng ấy cư trú. Bởi vậy, trên thực tế, văn hóa xứ nóng sẽ khác văn hóa xứ lạnh, văn hóa miền sông nước khác với văn hóa đồng bằng, khác với văn hóa biển đảo hay văn hóa miền cao nguyên, văn hóa miền núi…
Tựu trung lại, nghĩa rộng nhất của văn hoá là toàn bộ tri thức, hiểu biết, quan niệm của nhân loại về thế giới khách quan (bao gồm tự nhiên, xã hội, con người). Theo nghĩa hẹp nhất, thì văn hoá là phong tục, hành vi, thói quen sinh hoạt của cá nhân con người và cộng đồng. Văn hoá là bản sắc, “mẫu gen” gốc của dân tộc, là tiêu chí đặc thù phân biệt dân tộc này với các dân tộc khác. Có văn hoá tiên tiến, hiện đại và cũng có cả văn hoá lạc hậu, cũ kỹ xa xưa. Trên thực tế, các yếu tố văn hóa này có thể đan xen tồn tại trong cùng không gian và thời gian của một cộng đồng xã hội.
Trong văn kiện Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đọc tại Đại hội văn hóa toàn quốc lần thứ 2, tháng 7 năm 1948, đồng chí Trường Chinh nêu rõ: trong lịch sử loài người, “nhiều dân tộc chưa có văn minh, song đã có văn hóa” . Văn hóa và văn minh là những khái niệm gần gũi, nhưng không thể đồng nhất.
Về bản chất, có thể hiểu văn minh là khái niệm dùng để chỉ trạng thái phát triển của xã hội khi đã đạt đến trình độ văn hoá nhất định được đánh dấu bằng sự ra đời của chữ viết, sự hình thành tổ chức nhà nước, có một trình độ kỹ thuật phát triển cao phục vụ sản xuất và các nhu cầu của đời sống tinh thần theo xu hướng nhân bản hoá.. Văn minh là trình độ của một nền văn hoá, là nấc thang của một nền văn hoá trong tiến trình phát triển. Văn minh là hệ giá trị văn hoá cao quý, toả sáng có thể chi phối các nền văn hoá khác
Năm 1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu ra một định nghĩa khá đầy đủ về văn hoá như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hóa là tổng hợp các phương thức sinh hoạt cũng như biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu cuộc sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” .
Cuối thế kỷ XX, Federico Mayor - Tổng thư ký của UNESCO đưa ra quan niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc” .
Quan niệm về văn hóa trên đây của UNESCO đã chỉ ra được nguồn gốc và bản chất của văn hóa giống như quan niệm của C. Mác và Hồ Chí Minh, đồng thời cũng nêu ra các đặc trưng của văn hóa là tính nhân sinh; tính lịch sử; tính hệ thống; tính giá trị và tính dân tộc. Các đặc trưng ấy của văn hóa cho phép người ta có thể xác định cái gì là văn hóa, cái gì không phải là văn hóa. Chỉ những sự vật, hiện tượng nào do con người tạo ra, có ý nghĩa với con người, được tích luỹ, bồi đắp trong quá trình lịch sử thì mới là văn hóa.
Tuy nhiên, bước vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, năm 2002, UNESCO lại tiếp tục bổ sung định nghĩa về văn hóa như sau: “Tái khẳng định rằng văn hóa cần được coi là một tập hợp các đặc trưng về tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm của một xã hội hoặc một nhóm người, và rằng bên cạnh nghệ thuật và văn chương, nó (tức là văn hóa) còn bao hàm cả lối sống, cách sống trong cộng đồng, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét